KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Đặc điểm bên ngoài và tính chất ngọc học
Các đặc điểm cơ bản của các mẫu nghiên cứu được tóm tắt trong Bảng I. Các mẫu có nguồn gốc từ Myanmar có màu xanh lý cùng độ thấu quang rất tốt, hầu như không quan sát thấy bao thể bằng mắt thường. Các mẫu từ Guatemala cho thấy sự biến thiên đáng kể về hình dạng và kiểu cắt. Những mẫu thu thập trong khoảng nửa đầu năm 2022 có màu xanh lục từ trung bình đến thẫm, chủ yếu được chế tác dưới dạng mài khum rỗng và các phiến chữ nhật mỏng với đáy lõm. Với kiểu chế tác này, cùng với độ dày trung bình chỉ khoảng 1,6 mm, góp phần làm giảm độ đậm của màu nền và cải thiện độ trong suốt. Đôi khi có thể quan sát thấy các mảng hoặc đốm xanh lục thẫm bằng mắt thường. Các mẫu thu thập từ Guatemala trong khoảng nửa sau năm 2022 thể hiện màu xanh lục có độ bão hòa cao, được đánh bóng dưới dạng hình tròn, oval, kiểu mài khum hoặc các phiến chữ nhật với đáy phẳng được đánh bóng. Các bao thể, như những đốm màu lục thẫm đến đen, khó quan sát nếu không được phóng đại lên nhiều lần. Các mẫu từ Ý có màu xanh lục bão hòa, nhìn chung có tông màu thẫm nhất trong số các mẫu nghiên cứu. Phần lớn được chế tác dạng mài khum với đáy phẳng đánh bóng. Chúng có độ trong suốt ở mức mờ và chứa các bao thể màu đen kích thước vi mô có định hướng, biểu hiện màu nâu phớt đỏ đến nâu thẫm dưới ánh sáng phản xạ có cường độ mạnh.
Nhìn chung, các mẫu nghiên cứu có chiết suất (RI) trong khoảng 1,66 -1,67 và tỷ trọng (SG) dao động từ 3,29 đến 3,34 (xem thêm Bảng I). Các giá trị này nằm trong khoảng điển hình của ngọc jadeit–omphacit, lần lượt là 1,65 – 1,72 (±0,01) và 3,25 – 3,50 (GAHK 2016; NSPRC 2017; GIT 2022).
Đặc điểm quan sát dưới kính hiển vi
Độ đều màu và việc chứa ít bao thể là các tiêu chí lựa chọn mẫu, do đó không ngạc nhiên khi phần lớn các mẫu từ Myanmar và Guatemala cho thấy sự thiếu vắng đáng kể bao thể khi quan sát dưới độ phóng đại 10× với ánh sáng truyền qua hoặc phản xạ. Một mẫu jadeit từ Myanmar (BU-03) và một mẫu từ Guatemala (GU-02) chứa các bao thể rắn màu đen. Phân tích phổ Raman cho thấy các bao thể màu đen trong mẫu Myanmar là khoáng vật kosmochlor (Hình 6, trên), vốn thường gặp trong ngọc jade từ khu vực này (GAHK 2016) nhưng chưa từng được ghi nhận trong các nghiên cứu trước đây đối với vật liệu từ Guatemala. Các bao thể đen trong mẫu từ Guatemala được xác định là các khoáng sulfide gồm covellit (CuS) và troilit (FeS; Hình 6, giữa). Sự hiện diện đáng kể các khoáng sulfide có thể là chỉ thị nguồn gốc từ Guatemala, do chúng tương đối hiếm gặp trong vật liệu từ Myanmar (Ou Yang et al. 2003; Shi et al. 2009; Franz et al. 2014; Liu et al. 2015) cũng như từ Ý (Adamo et al. 2006).
Bảng I. Các đặc điểm cơ bản của các mẫu trong nghiên cứu

*Các loại Jade được xác định bởi các phân tích ở phần sau của báo cáo này. Tất cả các mẫu có cấu trúc hạt mịn và đều trơ dưới tia cực tím cả sóng dài và sóng ngắn.
Các mẫu từ Guatemala của chúng tôi không ghi nhận sự hiện diện của các bao thể đã được báo cáo trước đây đối với vật liệu từ khu vực này, bao gồm titanit, chromit và phlogopit (Wang et al. 2022; Zhang & Shi 2022). Ngoài ra, trong các mẫu màu xanh lục chất lượng cao từ Guatemala mà chúng tôi khảo sát cũng không quan sát thấy các bao thể albite trắng dạng “bông” phân tán, vốn được đề xuất là chỉ thị nguồn gốc Guatemala đối với vật liệu “blue-water” (Zhang & Shi 2022) và vật liệu “đen mực” (Xing et al. 2022). Có khả năng rằng các khoáng vật phụ và tạp chất dễ nhận biết như vậy (xem, ví dụ, Hình 3) đã bị loại bỏ hoặc được tránh trong quá trình chế tác bởi các thợ chế tác đá quý. Các mẫu có nguồn gốc từ Ý chứa nhiều bao thể rất nhỏ, định hướng, màu nâu đỏ đến nâu sẫm, đục (Hình 6, phía dưới), có ánh kim, được xác định là rutile thông qua phổ Raman.

Hình 6: Các bao thể quan sát được trong các mẫu jadeit–omphacit đã được nhận diện bằng phổ Raman. Một mẫu từ Myanmar (phía trên) chứa các bao thể màu đen của kosmochlor. Một mẫu từ Guatemala (ở giữa) có các bao thể màu đen, bao gồm covellit (CuS) và troilit (FeS). Một mẫu ngọc omphacit từ Ý chứa rất nhiều bao thể rất nhỏ, định hướng, màu nâu đỏ đến nâu sẫm, đục, thuộc rutile (phía dưới). Ảnh hiển vi do M. Seneewong-Na-Ayutthaya và C. Jakkawanvibul thực hiện; chiều rộng ảnh lần lượt là 15,0 mm (trên) và 2,2 mm (giữa và dưới)
Các phân tích quang phổ
Phổ UV-Vis-NIR. Phổ UV-Vis-NIR phản ánh hàm lượng các nguyên tố tạo màu (chromophore) như Cr và Fe trong ngọc jadeit–omphacit. Tất cả các mẫu đều thể hiện một vùng hấp thụ đặc trưng liên quan đến Cr, với ba đỉnh rõ rệt trong khoảng 580–740 nm (Hình 7), cho thấy sự hiện diện của Cr³⁺ trong phối trí bát diện (Lu 2012). Ion Cr³⁺ là tác nhân tạo nên màu xanh lục tươi của jadeitit (Harlow & Olds 1987) và ngọc jadeit (Ouyang 2000), đồng thời cũng gây nên sắc xanh trong omphacit (Harlow et al. 2004).
Chúng tôi ghi nhận sự dịch chuyển vị trí các đỉnh hấp thụ của Cr³⁺ liên quan đến nguồn gốc địa phương, không phụ thuộc vào khoáng vật chiếm ưu thế (jadeit hay omphacit), cụ thể như sau:
- Các mẫu từ Myanmar và Ý có vị trí đỉnh Cr³⁺ tương tự nhau trong khoảng 630–636 nm, trong khi ở vật liệu Guatemala, đỉnh này dịch chuyển về phía bước sóng cao hơn, đạt khoảng 639 nm (Hình DD-3).
- Đỉnh Cr³⁺ tại 655 nm trong các mẫu từ Myanmar dịch chuyển về bước sóng thấp hơn (651 nm) ở mẫu từ Ý, trong khi các mẫu từ Guatemala lại thể hiện sự dịch chuyển về bước sóng cao hơn (657 nm).
- Các mẫu từ Guatemala và Myanmar có đỉnh Cr³⁺ tại 690 nm, trong khi vật liệu từ Ý cho thấy sự dịch chuyển về bước sóng thấp hơn, ở mức 687 nm.
Phổ UV-Vis-NIR cũng có thể được sử dụng để xác định khoáng vật chiếm ưu thế trong mẫu (tức jadeit hoặc omphacit) dựa trên cường độ hấp thụ của Fe²⁺ và Fe³⁺. Ion Fe³⁺ gây ra các đỉnh hấp thụ tại 380 và 437 nm, với cường độ mạnh hơn trong ngọc jadeit so với ngọc omphacit (Burns 1993; Shinno & Oba 1993; Coccato et al. 2014; Kan-Nyunt et al. 2014). Tất cả các mẫu của chúng tôi từ Myanmar và Guatemala đều thể hiện một đỉnh rõ rệt quanh 437 nm cho thấy sự hiện diện của jadeit-trong khi đỉnh Fe³⁺ còn lại tại 380 nm bị che khuất bởi vùng hấp thụ mạnh trong khoảng 360–390 nm. Đối với các mẫu từ Ý, đỉnh Fe³⁺ tại 437 nm dịch chuyển về phía bước sóng cao hơn, đạt 447 nm.
Dải hấp thụ rộng trong khoảng 900–1050 nm, có nguồn gốc từ Fe²⁺ (Zhang & Shi 2022), thể hiện sự biến thiên liên quan đến cả nguồn gốc địa lý lẫn loại ngọc. Tất cả các mẫu ngọc omphacit đều biểu hiện dải hấp thụ Fe²⁺ với mức độ khác nhau. Đáng chú ý, ở các mẫu omphacite nguồn gốc từ Ý, dải hấp thụ rộng này dịch chuyển tới khoảng 1014 nm, trong khi ở các mẫu omphacit từ Guatemala và Myanmar, vị trí lần lượt nằm quanh 930 nm và 912 nm. Ngược lại, dải hấp thụ Fe²⁺ này không được ghi nhận trong phổ của các mẫu jadeit từ Myanmar, trong khi lại xuất hiện tại khoảng 901 nm ở các mẫu jadeit từ Guatemala. Quan sát này cho thấy các mẫu jadeit từ Myanmar trong nghiên cứu có hàm lượng jadeit cao nhất và hàm lượng omphacit thấp nhất trong ba khu vực được khảo sát. Trái lại, các mẫu jadeit từ Guatemala có xu hướng chứa hàm lượng omphacit cao hơn so với các mẫu từ Myanmar, phù hợp với các kết quả đã được công bố trước đây đối với vật liệu “blue-water” (Zhang & Shi 2022).

Hình 7: Phổ UV-Vis-NIR đại diện của các mẫu ngọc jadeit–omphacit màu lục chất lượng cao có nguồn gốc từ Myanmar, Guatemala và Ý, được chi phối chủ yếu bởi các đặc trưng phổ hấp thụ liên quan đến Cr³⁺ và Fe³⁺. Phần hình chèn (inset) đã được kéo giãn theo phương thẳng đứng nhằm làm nổi bật vùng dải hấp thụ của Fe²⁺ trong khoảng xấp xỉ 900–1050 nm, phản ánh hàm lượng tương đối của omphacit hiện diện trong mẫu. Đáng lưu ý, dải hấp thụ rộng do Fe²⁺ này không xuất hiện trong các mẫu jadeit từ Myanmar, trong khi các đặc trưng liên quan đến Fe²⁺ và Cr³⁺ trong omphacit từ Ý có xu hướng dịch chuyển về phía bước sóng cao hơn. Các đường phổ được dịch chuyển theo phương thẳng đứng nhằm tăng độ rõ ràng khi so sánh.
Phổ hồng ngoại biến đổi Fourier (FTIR). Bản chất không đồng nhất, kích thước hạt mịn và đặc tính đa tinh thể của ngọc jadeit–omphacit đặt ra những thách thức đáng kể trong việc xác định một cách toàn diện thành phần khoáng vật (Lu 2011; Franz và cs. 2014; Khourie 2023). Các kỹ thuật phổ, đặc biệt là FTIR và Raman, trước đây đã được ứng dụng để phân loại chủng loại ngọc (tức jadeit hay omphacit) dựa trên khoáng vật chiếm ưu thế (Franz và cs. 2014; GAHK 2016). Trong các tiêu chuẩn phòng thí nghiệm tại Hồng Kông, Trung Quốc và Thái Lan (GAHK 2016; NSPRC 2017; GIT 2022), phổ FTIR là phép thử thường được sử dụng để xác định loại ngọc và các xử lý, thường được tiến hành ở chế độ phản xạ (Ou Yang và cs. 2003; Liu & Peng 2010; Fan và cs. 2014; Franz và cs. 2014; GAHK 2016; Zhang & Shi 2022). Việc gán các đỉnh phổ FTIR được đề cập dưới đây dựa trên các nghiên cứu của Ou Yang và cộng sự (2003) và Zhang & Shi (2022).
Việc phân loại mẫu là jadeit hay omphacit được xác định thông qua tỷ số cường độ giữa các dải hấp thụ trong vùng 1150–1060 cm⁻¹ (dao động bất đối xứng Si–O–Si) và 1000–900 cm⁻¹ (dao động đối xứng Si–O). Ngọc jadeit đặc trưng bởi một dải đơn trong vùng 1150–1060 cm⁻¹ với tỷ số cường độ tối thiểu 1.4:1 so với dải trong vùng 1000–900 cm⁻¹, trong khi ngọc omphacit thể hiện dải kép trong vùng 1150–1060 cm⁻¹ với tỷ số xấp xỉ 1.0:1 so với dải 1000–900 cm⁻¹ (Wang và cộng sự, 2015). Tổng thể, kết quả phân tích FTIR của chúng tôi (Hình 8) cho thấy tất cả các mẫu đều thuộc loại ngọc jadeit–omphacit, không ghi nhận dấu hiệu của nhựa hay chất nhuộm màu.
Hầu hết các mẫu từ Myanmar là jadeit, với tỷ số cường độ của các dải nêu trên trong khoảng 1.8–2.0:1, tuy vậy có 2 mẫu được xác định là omphacit jade.
Phổ FTIR của các mẫu thu thập từ Ý phù hợp với các công bố trước đây, trong đó vật liệu từ khu vực này được xác định là ngọc omphacit (Adamo và cộng sự, 2006). Các mẫu này thể hiện đặc trưng tỷ số cường độ đạt khoảng 1.3–1.5:1 đối với các dải hấp thụ nêu trên, khác biệt so với tỷ số phổ biến 0.8–1.0:1 quan sát được trong các mẫu omphacit từ Guatemala và Myanmar. Dữ liệu EDXRF và LA-ICP-MS của chúng tôi cho thấy sự hiện diện của hàm lượng Cr cao hơn (xem phần dưới), đây có thể là nguyên nhân dẫn đến sự sai khác này, tương tự như đã ghi nhận trong omphacit chứa Mn có nguồn gốc từ Ý (Diella và cs. 2021).
Đáng chú ý, chúng tôi ghi nhận rằng việc phân loại chủng loại ngọc đối với vật liệu từ Guatemala có mối tương quan với thời điểm khai thác. Tất cả các mẫu từ Guatemala được khai thác trong nửa đầu năm 2022, có màu lục đậm hơn tương đối, đều được xác định là ngọc omphacit, với tỷ số cường độ các dải nêu trên trong khoảng 0.9–1.2:1. Trong khi đó, các vật liệu màu xanh lý được thu thập trong giai đoạn từ giữa năm 2022 đến đầu năm 2023 lại thuộc loại ngọc jadeit, với tỷ số cường độ đạt 1.4–1.8:1 cho các dải tương ứng. Hiện tượng này có thể liên quan đến việc phát hiện các khu vực khai thác mới vào năm 2022 tại Morales, Guatemala. Kết quả FTIR của chúng tôi đối với ngọc jadeit và omphacit Guatemala cho thấy sự phù hợp tốt với các nghiên cứu trước đây lần lượt về jadeit loại “blue-water” (Zhang & Shi 2022) và omphacite màu “inky black” (Xing và cs. 2022). So với các tài liệu đã công bố và các mẫu jadeit của Myanmar trong nghiên cứu này, dải hấp thụ mạnh nhất trong phổ của các mẫu jadeit Guatemala có xu hướng dịch chuyển về phía có số sóng thấp hơn, từ khoảng 1086–1080 cm⁻¹ xuống còn 1082–1074 cm⁻¹. Ngược lại, đối với jade omphacit từ Guatemala, các dải hấp thụ chính được ghi nhận tại khoảng 1075–1066 cm⁻¹ và 962–958 cm⁻¹ (xem thêm Hình DD-4).
Vùng có số sóng trong khoảng 700–500 cm⁻¹ trong dải phổ FTIR cũng có ý nghĩa quan trọng đối với việc phân loại chủng loại ngọc (xem thêm Hình 8). Theo một nghiên cứu trước đây trên các mẫu từ Myanmar (Wang và cs. 2015), các dải hấp thụ của ngọc jadeit được định vị ở trên 658.7 và 574.5 cm⁻¹, trong khi các dải tương ứng của ngọc omphacit nằm dưới các giá trị này. Trong nghiên cứu này, chúng tôi cũng ghi nhận sự phân chia tương tự giữa jadeit và omphacit dựa trên dải hấp thụ thứ hai (574.5 cm⁻¹). Tuy nhiên, khi áp dụng dải thứ nhất, chúng tôi không thể phân loại được 67% các mẫu jadeit từ Guatemala. Để mở rộng khả năng áp dụng của tiêu chí này, chúng tôi tiến hành khảo sát các ngưỡng 655.0 và 574.5 cm⁻¹ cho việc phân loại chủng loại ngọc (xem thêm Hình DD-4). Với các thông số này, toàn bộ các mẫu omphacit từ Myanmar, Guatemala và Ý đều được phân biệt rõ ràng so với các mẫu jadeit từ Myanmar và Guatemala. Đáng chú ý, khi so sánh với các tài liệu liên quan, bộ tiêu chí này cũng chứng minh hiệu quả trong việc phân biệt chủng loại ngọc đối với omphacit màu “inky black” (Xing và cs. 2022) và jadeit màu lam (Zhang & Shi 2022).
Vùng có số sóng từ 700–500 cm⁻¹ cũng thể hiện các đặc trưng hữu ích trong việc phân biệt nguồn gốc địa lý (Hình 8). Ngọc jadeit của Myanmar biểu hiện các vị trí dải hấp thụ tại 663, 586 và 529 cm⁻¹, tương ứng với các giá trị cao nhất trong ba khu vực nghiên cứu (đối với cả jadeit và omphacit). Ngược lại, các dải hấp thụ tương ứng trong ngọc omphacit từ Ý xuất hiện tại các giá trị thấp nhất, lần lượt là 646, 556 và 523 cm⁻¹. Các vị trí dải trung gian được ghi nhận ở ba nhóm còn lại—bao gồm jadeit của Guatemala, omphacit Guatemala và omphacit Myanmar. Trong đó, các mẫu jadeit Guatemala thể hiện giá trị số sóng nhỉnh hơn so với các mẫu omphacit cùng nguồn gốc. Các dải hấp thụ này được cho là có liên quan đến các dao động kéo giãn Al–O và dao động kéo giãn liên kết kim loại–oxy (Zhang & Shi 2022). Tương ứng, các mẫu jadeit từ Myanmar và Guatemala có hàm lượng Al₂O₃ và Na₂O cao hơn (xác định bằng phân tích EDXRF; xem phần dưới), dẫn đến sự xuất hiện của các dải ở số sóng cao hơn. Trong khi đó, các mẫu omphacit từ cả ba khu vực có hàm lượng Al₂O₃ và Na₂O thấp hơn, do đó biểu hiện các dải hấp thụ ở chỉ số sóng thấp hơn.

Hình 8: Phổ FTIR đại diện của các mẫu ngọc jadeite–omphacite màu lục chất lượng cao từ Myanmar, Guatemala và Ý thể hiện các đặc trưng phân biệt rõ rệt. Tỷ số cường độ giữa các dải hấp thụ trong vùng 1150–1060 cm⁻¹ và 1000–900 cm⁻¹ cho phép phân biệt ngọc jadeite có nguồn gốc từ Myanmar hoặc Guatemala. Ngọc omphacite từ Ý được đặc trưng bởi sự dịch chuyển các dải hấp thụ đến các vị trí 1109, 1064, 646 và 556 cm⁻¹. Các đường phổ được dịch chuyển theo phương thẳng đứng nhằm tăng độ rõ ràng khi so sánh.
Phổ Raman. Các phổ Raman trong vùng 200–1200 cm⁻¹ (Hình 9) được sử dụng để nhận diện các pha khoáng vật trong mẫu, dựa trên các nghiên cứu trước đây (Ou Yang và cs. 2003; Liu và cs. 2011, 2015; Franz và cs. 2014; Zhang & Shi 2022). Jadeit và omphacit thể hiện các đặc trưng phổ Raman khác biệt, được phân chia thành bốn vùng chính: dao động tịnh tiến kim loại–oxy (200–500 cm⁻¹), dao động uốn O–Si–O (500–600 cm⁻¹), dao động kéo giãn cầu nối Si–O (650–760 cm⁻¹) và dao động kéo giãn không cầu nối Si–O (800–1200 cm⁻¹). Theo tài liệu, jadeit (nguồn gốc Myanmar) đặc trưng bởi năm đỉnh rõ rệt tại các vị trí 200–201, 370–377, 693–700, 983–989 và 1032–1039 cm⁻¹. Trong khi đó, omphacit biểu hiện hai đỉnh sắc nét tại 677–685 và 1017–1021 cm⁻¹, cùng với một dải rộng đặc trưng cấu thành từ ba đỉnh nhỏ trong khoảng 280–480 cm⁻¹.
Kết quả phổ Raman của chúng tôi phù hợp với dữ liệu FTIR và UV-Vis-NIR về cả loại ngọc và nguồn gốc địa lý. Tất cả các mẫu từ Ý đều bị chi phối bởi omphacit giàu Cr, với dải đặc trưng tại 679–680 cm⁻¹. Phần lớn các mẫu từ Myanmar là jadeit chiếm ưu thế, tuy nhiên có hai mẫu bị chi phối bởi omphacit. Các đỉnh phổ Raman của toàn bộ mẫu từ Myanmar phù hợp với các nghiên cứu trước đây về jadeit và omphacit Myanmar với dải màu sắc và độ trong suốt đa dạng (Ou Yang và cs. 2003; Liu và cs. 2011, 2015; Fan và cs. 2014; Franz và cs. 2014; Zhang & Shi 2022).
So sánh vị trí đỉnh giữa các phổ Raman của các mẫu từ ba khu vực cho thấy vai trò quan trọng của dải dao động kéo giãn cầu nối Si–O trong vùng 650–760 cm⁻¹ đối với việc xác định nguồn gốc địa lý. Đỉnh này xuất hiện ở số sóng cao hơn trong jadeit Myanmar (694–699 cm⁻¹) so với jadeit của Guatemala (688–693 cm⁻¹). Đối với omphacit, đỉnh này nằm ở số sóng cao hơn trong các mẫu từ Guatemala (680–688 cm⁻¹) và Myanmar (khoảng 682 cm⁻¹) so với các mẫu từ Ý (679–680 cm⁻¹). Tuy nhiên, đỉnh này không thể hiện ý nghĩa thống kê đủ mạnh để phân biệt rõ ràng giữa omphacit Myanmar và Guatemala.

Hình 9: Phổ Raman đại diện của các khoáng vật chiếm ưu thế trong các mẫu ngọc màu lục chất lượng cao từ Myanmar, Guatemala và Ý cho thấy sự khác biệt về vị trí đỉnh trong vùng ~680–700 cm⁻¹, đây là đặc trưng chẩn đoán đối với ngọc omphacit. Cường độ phổ của các mẫu từ Guatemala và Ý đã được phóng đại gấp 3 lần nhằm làm nổi bật các đặc trưng chính. Các đường phổ được dịch chuyển theo phương thẳng đứng để tăng độ rõ ràng khi quan sát và so sánh.
Thành phần hóa học
Phân tích EDXRF. Dữ liệu EDXRF của các mẫu được phân tích được trình bày trong Bảng II. Phân tích thống kê đa biến PCA cho thấy có giá trị nhất định trong việc phân biệt nguồn gốc địa lý, đặc biệt đối với vật liệu từ Ý (Hình 10). Trong biểu đồ điểm số PCA thứ nhất (Hình 10a), các mẫu từ Ý tách biệt hoàn toàn so với cả ngọc jadeit và ngọc omphacit của hai khu vực còn lại. Ngược lại, các mẫu từ Guatemala và Myanmar có sự chồng lấp, và khả năng của phương pháp EDXRF trong việc phân tách vật liệu từ hai khu vực này lần lượt đạt 92% và 75%. Điều này cho thấy tồn tại những đặc điểm hóa học chung hoặc sự tương đồng giữa hai nguồn gốc này. Tuy nhiên, khi đồng thời xét đến loại ngọc (được xác định thông qua dữ liệu phổ học), khả năng phân loại của EDXRF trong việc phân biệt nguồn gốc địa lý được cải thiện đáng kể. Cụ thể, ngọc jadeit từ Guatemala và Myanmar được phân tách hoàn toàn (100%) dọc theo trục PC1 (Hình 10b). Mặc dù vậy, hiệu quả phân biệt nguồn gốc địa lý của EDXRF đối với ngọc omphacit còn hạn chế (Hình 10c, d). Tổng thể, tám nguyên tố sau đây được phân tích bằng EDXRF (biểu thị dưới dạng các oxit) được xác định là có vai trò quan trọng trong việc phân biệt nguồn gốc địa lý: Na₂O, MgO, Al₂O₃, CaO, TiO₂, Cr₂O₃, Fe₂O₃ và Ni₂O₃.
Bảng II: Thành phần hóa học xác định bằng phân tích EDXRF của các mẫu ngọc jadeit–omphacit màu lục chất lượng cao có nguồn gốc từ ba khu vực.

* Giá trị trung bình được thể hiện trong ngoặc đơn. Chữ viết tắt: bdl = dưới giới hạn phát hiện
Trong khoáng vật học, biểu đồ tam giác diopsit–jadeit–aegirin đã được phát triển (Morimoto và cs. 1988) và được sử dụng rộng rãi (Shi và cs. 2012; Diella và cs. 2021) để phân loại các khoáng vật nhóm pyroxen. Do thành phần chủ yếu là pyroxen, dữ liệu hóa học của ngọc jadeit đã được biểu diễn trên biểu đồ tam giác này trong một số nghiên cứu ngọc học (Ouyang & Ng 2012; Xing và cs. 2021). Tuy nhiên, như Franz và cộng sự (2014) đã chỉ ra, biểu đồ tam giác này tỏ ra không phù hợp đối với các mẫu đa khoáng. Ngoài ra, diện tích phân tích lớn của phương pháp EDXRF bao trùm nhiều pha khoáng khác nhau, gây khó khăn cho việc xác định chính xác tỷ lệ thành phần cụ thể trên biểu đồ tam giác.
Do đó, chúng tôi đã tiến hành một nghiên cứu khả thi nhằm sử dụng dữ liệu nguyên tố chính thu được từ phân tích EDXRF để xác định nguồn gốc địa lý, thông qua phương pháp phân tích đa biến với quy trình phân loại phân biệt. Những biến thiên chính trong dữ liệu EDXRF có thể do sự thay đổi về tỷ lệ tương đối của hai thành phần khoáng vật chủ đạo: jadeit và omphacit. Dữ liệu oxit của hai nguyên tố chính tại vị trí M2 (Na và Ca) thể hiện xu hướng đối nghịch, và hiện tượng tương tự cũng được ghi nhận đối với hai nguyên tố chủ yếu tại vị trí M1 (Al và Mg). Na và Al là các thành phần đặc trưng của jadeit, cho thấy giá trị thấp nhất trong ngọc omphacit Ý và cao nhất trong ngọc jadeit từ Myanmar. Ngược lại, Ca và Mg là các thành phần chính của omphacit và biểu hiện xu hướng biến đổi ngược lại. Tất cả các quan sát nêu trên đều được xác nhận với ý nghĩa thống kê. Tương tự, ngọc jadeit Guatemala có hàm lượng Na và Al thấp hơn, nhưng Ca và Mg cao hơn so với các mẫu từ Myanmar (Hình DD-6). Kết quả này phù hợp với dữ liệu phổ học của chúng tôi, đồng thời cho thấy rằng dữ liệu EDXRF chưa chuẩn hóa, khi kết hợp với kết quả phổ học, là đủ để xác định nguồn gốc địa lý của ngọc jadeit, cũng như ngọc omphacit từ Ý.
Ngoài ra, các mẫu từ Ý thể hiện một kiểu phân bố nguyên tố chính đặc trưng, hữu ích cho việc nhận diện, được đặc trưng bởi hàm lượng Ti và Cr cao nhất trong số các mẫu từ ba khu vực nghiên cứu (Hình DD-6a). Các nghiên cứu trước đây cho thấy ngọc jadeit Guatemala có hàm lượng Fe cao hơn và Cr thấp hơn so với ngọc jadeit Myanmar (Liu và cs. 2015; Zhang & Shi 2022). Mặc dù chúng tôi cũng quan sát thấy xu hướng tương tự, nhưng không ghi nhận được ý nghĩa thống kê đối với các mẫu nghiên cứu. Thay vào đó, khi áp dụng phân tích thống kê chuyên biệt cho mục tiêu xác định nguồn gốc địa lý, kết quả cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa về hàm lượng Cr giữa các mẫu từ ba khu vực, cũng như sự khác biệt về hàm lượng Fe giữa vật liệu từ Myanmar và Guatemala (Hình DD-6b). Hàm lượng Cr cao trong các mẫu từ Ý cung cấp bằng chứng rõ ràng về thành phần khoáng vật ưu thế là omphacit chứa Cr, điều này gây ra đỉnh hấp thụ FTIR mạnh tại 1109 cm⁻¹ trong các mẫu Ý, tương tự như sự dịch chuyển đỉnh FTIR do Mn gây ra trong omphacit chứa Mn (Diella và cs. 2021)

Hình 10: Biểu đồ điểm số PCA của dữ liệu EDXRF cho thấy một số xu hướng hữu ích.
(a) Khi xét toàn bộ các mẫu trong nghiên cứu này, ngọc omphacit từ Ý được phân tách rõ ràng, trong khi các mẫu ngọc từ Myanmar và Guatemala không thể hiện sự phân tách rõ rệt.
(b) Đối với các mẫu ngọc jadeit, tồn tại sự phân tách rõ ràng giữa các mẫu có nguồn gốc từ Myanmar và Guatemala.
(c) Đối với các mẫu ngọc omphacit, vật liệu từ Ý được phân định rõ ràng so với các khu vực còn lại.
(d) Dữ liệu EDXRF không thể được sử dụng một cách đáng tin cậy để phân tách ngọc omphacit từ Myanmar và Guatemala.
Dịch từ bài báo: Geographic Origin Determination of High-quality Green Jadeite-Omphacite Jade (Fei Cui) from Myanmar, Guatemala and Italy Using Statistical Processing Coupled with Spectroscopic and Chemical Analyses của các tác giả: Shang I (Edward) Liu, Ka Yi (Angela) Man, Montira Seneewong-Na-Ayutthaya, Chanenkant Jakkawanvibul và Ann Tak-Yan Lee đăng trên tạp chí THE JOURNAL OF GEMMOLOGY, 39(2), 2024.







